Results (
English) 1:
[Copy]Copied!
Trong đó: wi : Tỷ trọng đầu tư tài sản i trong danh mục.
E(Ri) : Tỷ suất sinh lợi mong đợi của tài sản i.
1.5.1.2. Rủi ro danh mục đầu tư
Đa dạng hóa và rủi ro danh mục đầu tư
Rủi ro hệ thống và rủi ro không hệ thống: Rủi ro riêng của các tài sản (có thể đa dạng hóa) được gọi là rủi ro không hệ thống. Đó là rủi ro đặc trưng của tài sản đó như trình độ quản lý, trình độ tay nghề và năng suất lao động của đội ngũ công nhân, tính chất sản phẩm, thị trường tham gia... Rủi ro hệ thống là phần rủi ro còn lại của danh mục thị trường, không thể đa dạng hóa. Rủi ro hệ thống là tính khả biến trong tất cả các tài sản rủi ro do tác động của các biến kinh tế vĩ mô như lạm phát, lãi suất, tăng trưởng GDP... Rủi ro hệ thống được đo lường bởi độ lệch chuẩn tỷ suất sinh lợi danh mục thị trường và có thể thay đổi theo thời gian khi có những thay đổi trong các biến kinh tế vĩ mô tác động đến giá trị của tất cả các tài sản rủi ro. Rủi ro hệ thống ảnh hưởng tất cả các tài sản, việc đa dạng hoá hay không đa dạng hóa thì rủi ro này vẫn tồn tại và cũng không có cách nào giảm thiểu hay hạn chế triệt tiêu rủi ro này.
Đo lường rủi ro của danh mục đầu tư
Rủi ro tổng thể của danh mục đầu tư là khả năng xảy ra biến động trong tương lai về kết quả thu được của danh mục đầu tư. Phương pháp để ước lượng rủi ro là sử dụng phương sai và độ lệch chuẩn của tỷ suất sinh lời mong đợi. Phương sai hay độ lệch chuẩn là một phương pháp ước lượng chênh lệch của những mức tỉ suất sinh lợi có thể có Ri so với tỷ suất sinh lợi mong đợi E(Ri) sau đây:
Being translated, please wait..
